THÔNG TIN PHỔ BIẾN GIÁO DỤC PHÁP LUẬT

SỞ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
   

QUY ĐỊNH MỚI VỀ THẺ CĂN CƯỚC, CÓ HIỆU LỰC TỪ 15/3/2026

Ngày tạo:  20/03/2026 16:17:37
Ngày 13/2/2026, Chính phủ đã ban hành Nghị định 58/2026/NĐ-CP sửa đổi các Nghị định liên quan đến quy định điều kiện về an ninh, trật tự đối với ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện; quản lý và sử dụng con dấu; quản lý, sử dụng pháo; hướng dẫn Luật cư trú 2020, Luật Căn cước 2023

         Nghị định 58/2026/NĐ-CP điều chỉnh một số quy định mới về thẻ căn cước, có hiệu lực thi hành từ ngày 15/3/2026.

        Thứ nhất, Bổ sung tích hợp số chứng minh nhân dân 9 số, số định danh cá nhân đã hủy trên VNeID và bộ phận lưu trữ của thẻ

       Trước đây, theo quy định tại khoản 1 Điều 12 Nghị định 70/2024/NĐ-CP, số chứng minh nhân dân 09 số, số định danh cá nhân đã hủy được mã hóa, tích hợp trong mã QR trên thẻ căn cước. Cơ quan, tổ chức, cá nhân quét mã QR trên thẻ căn cước và sử dụng thông tin số chứng minh nhân dân 09 số, số định danh cá nhân đã hủy truy xuất được qua mã QR để phục vụ giải quyết thủ tục hành chính, dịch vụ công, các giao dịch và hoạt động khác.

        Căn cứ theo khoản 7 Điều 5 Nghị định 58/2026/NĐ-CP quy định:

       Sửa đổi, bổ sung một số điều Nghị định số 70/2024/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Căn cước (sau đây viết gọn là Nghị định số 70/2024/NĐ-CP)

 “7. Sửa đổi, bổ sung Điều 12 như sau:

Điều 12. Thông tin số chứng minh nhân dân 09 số, số định danh cá nhân đã hủy

Thông tin số chứng minh nhân dân 09 số, số định danh cá nhân đã hủy được mã hóa, tích hợp trong mã QR trên thẻ căn cước, trong bộ phận lưu trữ của thẻ căn cước, trên ứng dụng định danh quốc gia (VNeID). Cơ quan, tổ chức, cá nhân quét mã QR trên thẻ căn cước, khai thác thông tin trong bộ phận lưu trữ của thẻ căn cước, khai thác thông tin trên ứng dụng định danh quốc gia (VNeID) và sử dụng thông tin số chứng minh nhân dân 09 số, số định danh cá nhân đã hủy truy xuất được qua mã QR, trong bộ phận lưu trữ của thẻ căn cước, khai thác thông tin trên ứng dụng định danh quốc gia (VNeID) để phục vụ giải quyết thủ tục hành chính, dịch vụ công, các giao dịch và hoạt động khác; không được yêu cầu công dân phải cung cấp xác nhận số chứng minh nhân dân 09 số, số định danh cá nhân đã hủy.”

         Như vậy, từ ngày 15/3/2026, số chứng minh nhân dân 9 số và số định danh cá nhân đã hủy chỉ được mã hóa và lưu trong mã QR trên thẻ (mở rộng phương thức tích hợp và khai thác thông tin, bổ sung thêm hình thức lưu trữ trong bộ phận lưu trữ của thẻ và trên ứng dụng VNeID, thay vì chỉ giới hạn ở mã QR như trước đây). Bên cạnh đó, không được yêu cầu công dân phải cung cấp xác nhận số chứng minh nhân dân 09 số, số định danh cá nhân đã hủy.

         Thứ hai, trình tự, thủ tục tích hợp vào căn cước được sửa đổi

        Căn cứ theo khoản 9 Điều 5 Nghị định 58/2026/NĐ-CP có nội dung sửa đổi, bổ sung như sau:

Trình tự, thủ tục tích hợp thông tin vào thẻ căn cước đối với trường hợp người dưới 6 tuổi đề nghị cấp, cấp đổi, cấp lại thẻ căn cước, công dân đề nghị cấp lại thẻ căn cước khi bị mất thẻ căn cước hoặc thẻ căn cước bị hư hỏng không sử dụng được hoặc cấp đổi thẻ căn cước do có thay đổi về địa giới hành chính thông qua Cổng dịch vụ công quốc gia, Ứng dụng định danh quốc gia (VNeID) thực hiện như sau:

       - Công dân hoặc người đại diện hợp pháp của người dưới 6 tuổi lựa chọn thông tin cần tích hợp gửi kèm hồ sơ đề nghị cấp, cấp đổi, cấp lại thẻ căn cước;

     - Cơ quan quản lý căn cước của Bộ Công an thực hiện kiểm tra, đối chiếu, xác thực thông tin đề nghị tích hợp thông qua Cơ sở dữ liệu căn cước, cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành và thực hiện tích hợp đối với các thông tin xác thực thành công;

      - Cơ quan quản lý căn cước của Bộ Công an thông báo kết quả tích hợp thông tin khi trả thẻ căn cước cho công dân;

    - Công dân hoặc người đại diện hợp pháp của người dưới 6 tuổi thực hiện thanh toán lệ phí tích hợp, cập nhật, điều chỉnh thông tin trên thẻ căn cước và phí dịch vụ chuyển phát theo quy định của pháp luật về phí và lệ phí.

      Thứ ba, áp dụng mới về trình tự, thủ tục cấp, cấp đổi, cấp lại thẻ căn cước thông qua Cổng dịch vụ công quốc gia và Ứng dụng VNeID

      Căn cứ theo khoản 10 Điều 5 Nghị định 58/2026/NĐ-CP sửa đổi khoản 2 Điều 21 Nghị định 70/2024/NĐ-CP quy định về trình tự, thủ tục cấp, cấp đổi, cấp lại thẻ căn cước thông qua Cổng dịch vụ công quốc gia hoặc Ứng dụng định danh quốc gia (VNeID):

     (1) Công dân lựa chọn thủ tục, kiểm tra thông tin của mình được khai thác trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư. Trường hợp thông tin chính xác thì đăng ký thời gian và cơ quan quản lý căn cước để thực hiện thủ tục, hệ thống sẽ xác nhận và tự động chuyển đề nghị của công dân đến cơ quan quản lý căn cước nơi công dân đề nghị cấp, cấp đổi, cấp lại thẻ căn cước trừ trường hợp quy định tại (1);

Công dân đến cơ quan quản lý căn cước theo thời gian, địa điểm đã đăng ký để thực hiện thủ tục cấp, cấp đổi, cấp lại thẻ căn cước theo trình tự, thủ tục quy định tại khoản 1 Điều 21 Nghị định 70/2024/NĐ-CP;

     (2) Trường hợp bị mất thẻ căn cước hoặc thẻ căn cước bị hư hỏng không sử dụng được hoặc cấp đổi thẻ căn cước do có thay đổi về địa giới hành chính thì lựa chọn thủ tục cấp lại, kiểm tra thông tin của mình được khai thác trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư. Trường hợp thông tin chính xác thì xác nhận chuyển hồ sơ đề nghị cấp lại thẻ căn cước đến cơ quan quản lý căn cước xem xét, giải quyết việc cấp lại thẻ căn cước theo quy định tại khoản 4 Điều 25 Luật Căn cước 2023;

     (3) Trường hợp người đại diện hợp pháp thực hiện thủ tục cấp, cấp đổi, cấp lại thẻ căn cước cho người dưới 06 tuổi thì lựa chọn thủ tục, kiểm tra thông tin của người dưới 06 tuổi trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư. Trường hợp thông tin chính xác thì người đại diện hợp pháp xác nhận chuyển hồ sơ đề nghị đến cơ quan quản lý căn cước xem xét, giải quyết việc cấp, cấp đổi, cấp lại thẻ căn cước

      Thứ tư, bổ sung cơ chế tự động cập nhật, điều chỉnh và xử lý sai sót thông tin trong Cơ sở dữ liệu Căn cước

      Căn cứ theo khoản 8 Điều 5 Nghị định 58/2026/NĐ-CP quy định:

Sửa đổi, bổ sung một số điều Nghị định số 70/2024/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Căn cước (sau đây viết gọn là Nghị định số 70/2024/NĐ-CP)

...

“8. Sửa đổi, bổ sung khoản 2 và khoản 3 Điều 14 như sau:

2. Cơ quan quản lý căn cước của Bộ Công an tự động kiểm tra, xác thực và thực hiện điều chỉnh, cập nhật thông tin của công dân trong Cơ sở dữ liệu căn cước khi có sự thay đổi và đồng bộ từ Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, cơ sở dữ liệu khác. Trường hợp phát hiện thông tin cập nhật, điều chỉnh có sai sót cơ quan quản lý căn cước của Bộ Công an có trách nhiệm phối hợp với cơ quan có liên quan điều chỉnh thông tin trong Cơ sở dữ liệu căn cước và các cơ sở dữ liệu khác.”

      Theo đó, Cơ quan quản lý căn cước của Bộ Công an tự động kiểm tra, xác thực và thực hiện điều chỉnh, cập nhật thông tin của công dân trong Cơ sở dữ liệu căn cước khi có sự thay đổi và đồng bộ từ Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, cơ sở dữ liệu khác.Trường hợp phát hiện thông tin cập nhật, điều chỉnh có sai sót cơ quan quản lý căn cước của Bộ Công an có trách nhiệm phối hợp với cơ quan có liên quan điều chỉnh thông tin trong Cơ sở dữ liệu căn cước và các cơ sở dữ liệu khác.

      Giá trị sử dụng của thẻ căn cước năm 2026

      Căn cứ theo Điều 20 Luật Căn cước 2023 quy định giá trị sử dụng của thẻ căn cước năm 2026 như sau:

     - Thẻ căn cước có giá trị chứng minh về căn cước và thông tin khác đã được tích hợp vào thẻ căn cước của người được cấp thẻ để thực hiện thủ tục hành chính, dịch vụ công, các giao dịch và hoạt động khác trên lãnh thổ Việt Nam.

     - Thẻ căn cước được sử dụng thay cho giấy tờ xuất nhập cảnh trong trường hợp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước ngoài ký kết điều ước hoặc thỏa thuận quốc tế cho phép người dân nước ký kết được sử dụng thẻ căn cước thay cho giấy tờ xuất nhập cảnh trên lãnh thổ của nhau.

     - Thẻ căn cước hoặc số định danh cá nhân được sử dụng để cơ quan, tổ chức, cá nhân kiểm tra thông tin của người được cấp thẻ trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, cơ sở dữ liệu quốc gia khác và cơ sở dữ liệu chuyên ngành theo quy định của pháp luật.

     Trường hợp người được cấp thẻ căn cước phải xuất trình thẻ căn cước theo yêu cầu của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền thì cơ quan, tổ chức, cá nhân đó không được yêu cầu người được cấp thẻ xuất trình giấy tờ hoặc cung cấp thông tin đã được in, tích hợp vào thẻ căn cước;

     Trường hợp thông tin đã thay đổi so với thông tin trên thẻ căn cước, người được cấp thẻ phải cung cấp giấy tờ, tài liệu có giá trị pháp lý chứng minh các thông tin đã thay đổi.

     - Nhà nước bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người được cấp thẻ căn cước theo quy định của pháp luật.


Hoàng Anh
Nguồn tin: Phổ biến giáo dục pháp luật, Luật Việt Nam

File đính kèm
   

Nhập nội dung ý kiến của bạn.
Nhập tên của bạn.
Nhập email của bạn.