THÔNG TIN PHỔ BIẾN GIÁO DỤC PHÁP LUẬT

UBND HUYỆN LANG CHÁNH
   

MỘT SỐ NỘI DUNG MỚI CƠ BẢN CỦA LUẬT SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA LUẬT PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG NĂM 2025

Ngày tạo:  01/06/2026 01:38:56
Ngày 10/12/2025, tại Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật số 132/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tham nhũng. Luật gồm 02 điều; trong đó Điều 1 sửa đổi, bổ sung 22 nội dung của Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018; Điều 2 quy định về hiệu lực thi hành. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026

      Trong thời gian qua, công tác phòng, chống tham nhũng tiếp tục được Đảng và Nhà nước quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện đồng bộ. Các biện pháp phòng ngừa tham nhũng ngày càng được hoàn thiện, thể hiện qua việc tăng cường công khai, minh bạch trong hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị; thực hiện các quy định về định mức, tiêu chuẩn, chế độ; kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn; chuyển đổi vị trí công tác; cải cách hành chính, chuyển đổi số trong quản lý nhà nước; đồng thời tăng cường xử lý trách nhiệm của người đứng đầu khi để xảy ra tham nhũng.

Bên cạnh những kết quả đạt được, quá trình thi hành Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 cũng cho thấy một số quy định chưa thực sự phù hợp với yêu cầu thực tiễn, phát sinh những khó khăn, vướng mắc trong quá trình áp dụng. Trên cơ sở tổng kết thực tiễn thi hành pháp luật và yêu cầu tiếp tục hoàn thiện cơ chế phòng ngừa, phát hiện, xử lý tham nhũng, Quốc hội đã ban hành Luật số 132/2025/QH15 nhằm sửa đổi, bổ sung một số quy định quan trọng của Luật Phòng, chống tham nhũng.

      Luật sửa đổi năm 2025 có một số nội dung mới đáng chú ý như sau:

      1. Hoàn thiện quy định về cơ quan, tổ chức, đơn vị khu vực nhà nước

      Một trong những nội dung được sửa đổi là quy định về cơ quan, tổ chức, đơn vị khu vực nhà nước tại khoản 9 Điều 3. So với Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018, Luật sửa đổi năm 2025 đã lược bỏ nội dung “do Nhà nước trực tiếp quản lý hoặc tham gia quản lý nhằm phục vụ nhu cầu phát triển chung, thiết yếu của Nhà nước và xã hội”, đồng thời quy định theo hướng ngắn gọn và rõ ràng hơn. 

      Theo đó, cơ quan, tổ chức, đơn vị khu vực nhà nước bao gồm cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân, đơn vị sự nghiệp công lập, doanh nghiệp nhà nước và các tổ chức, đơn vị khác do Nhà nước thành lập, đầu tư cơ sở vật chất hoặc cấp toàn bộ hoặc một phần kinh phí hoạt động.

      Việc sửa đổi này góp phần xác định rõ phạm vi điều chỉnh của Luật, tạo cơ sở thuận lợi cho việc áp dụng thống nhất trong thực tiễn.

      2. Bổ sung và cụ thể hóa các hành vi bị nghiêm cấm

      Điều 8 của Luật được sửa đổi theo hướng cụ thể hóa các hành vi bị nghiêm cấm nhằm tăng cường bảo vệ người phản ánh, tố cáo, báo cáo về hành vi tham nhũng. 

      Nếu như Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 chủ yếu quy định mang tính khái quát về các hành vi đe dọa, trả thù, trù dập hoặc tiết lộ thông tin liên quan đến người phản ánh, tố cáo, báo cáo hành vi tham nhũng thì Luật sửa đổi năm 2025 đã liệt kê cụ thể hơn các hành vi bị cấm. 

      Theo đó, nghiêm cấm việc đe dọa, sử dụng bạo lực, gây áp lực, vu khống, cô lập, xúc phạm hoặc xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của người phản ánh, tố cáo, báo cáo hành vi tham nhũng; nghiêm cấm việc trả thù hoặc thuê, nhờ, xúi giục người khác thực hiện các hành vi uy hiếp tinh thần, trả thù người cung cấp thông tin.

      Bên cạnh đó, Luật còn bổ sung nhiều hành vi bị nghiêm cấm như xâm phạm bất hợp pháp nhà ở, chỗ ở, chiếm giữ, hủy hoại tài sản, xúc phạm nhân phẩm, danh dự hoặc có hành vi ảnh hưởng đến sức khỏe, an toàn cá nhân của người phản ánh, tố cáo, báo cáo về hành vi tham nhũng. Đồng thời, Luật cũng nghiêm cấm việc thực hiện không đúng quy định, phân biệt đối xử, đề ra tiêu chí, điều kiện, nhận xét, đánh giá mang tính áp đặt gây bất lợi trong công tác cán bộ, khen thưởng, kỷ luật đối với người phản ánh, tố cáo, báo cáo về hành vi tham nhũng; luân chuyển, điều động, biệt phái người phản ánh, tố cáo, báo cáo về hành vi tham nhũng khi đang giải quyết vụ việc hoặc gây khó khăn, cản trở khi thực hiện chế độ, chính sách của Đảng, Nhà nước, giải quyết các thủ tục hành chính, các dịch vụ công theo quy định của pháp luật, các hoạt động sản xuất, kinh doanh, nghề nghiệp, việc làm, lao động, học tập hoặc thực thi nhiệm vụ của người phản ánh, tố cáo, báo cáo về hành vi tham nhũng. 

      Đáng chú ý, Luật bổ sung khoản 3a Điều 8 nhằm ngăn chặn các hành vi cản trở hoạt động bảo vệ người phản ánh, tố cáo, báo cáo về hành vi tham nhũng như che giấu, tiêu hủy thông tin, tài liệu, chứng cứ; trì hoãn việc xử lý yêu cầu bảo vệ; tiết lộ thông tin thuộc diện bí mật hoặc thiếu trách nhiệm trong quá trình thực hiện nhiệm vụ bảo vệ.

      3. Quy định cụ thể hơn về trách nhiệm giải trình

      Luật sửa đổi năm 2025 tiếp tục hoàn thiện cơ chế trách nhiệm giải trình của cơ quan, tổ chức, đơn vị và cá nhân trong thực thi công vụ.

      Theo quy định mới, cơ quan, tổ chức, đơn vị và cá nhân có trách nhiệm giải trình đối với quyết định hoặc hành vi của mình khi thực hiện nhiệm vụ, công vụ nếu có yêu cầu của cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặc cá nhân chịu tác động trực tiếp bởi quyết định, hành vi đó.

      Đồng thời, Luật giao Chính phủ quy định chi tiết về nguyên tắc, đối tượng, nội dung, hình thức, trình tự, thủ tục cũng như quyền và nghĩa vụ của các chủ thể liên quan trong việc thực hiện trách nhiệm giải trình. Quy định này tạo cơ sở pháp lý thống nhất cho việc triển khai trong thực tiễn. 

      Để cụ thể hóa các vấn đề trên, Nghị định số 164/2026/NĐ-CP ngày 15/5/2026 của Chính phủ đã quy định một số nội dung liên quan đến giải trình về biến động tài sản, thu nhập và nguồn gốc của tài sản, thu nhập tăng thêm như: giải thích một số từ ngữ về “giải trình nguồn gốc tài sản, thu nhập tăng thêm”, “giải trình nguồn gốc của tài sản, thu nhập tăng thêm không trung thực”; quy định nguyên tắc xác minh tài sản, thu nhập phải bảo đảm quyền được giải trình của người được xác minh; quy định trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được yêu cầu, đề nghị, người được xác minh có trách nhiệm cung cấp tài liệu, giấy tờ kiểm chứng hoặc giải trình bằng văn bản về việc không cung cấp được tài liệu, giấy tờ kiểm chứng; quy định về yêu cầu giải trình, làm việc trực tiếp với người được xác minh tài sản, thu nhập. Trường hợp thông tin, tài liệu được cung cấp chưa đầy đủ, việc giải trình chưa rõ thì Tổ xác minh yêu cầu người được xác minh tiếp tục cung cấp thông tin, tài liệu giải trình về các vấn đề còn chưa rõ. Thời hạn cung cấp thông tin, tài liệu giải trình về các vấn đề còn chưa rõ của người được xác minh không quá 10 ngày làm việc…

      4. Bổ sung quy định về xây dựng và công khai báo cáo công tác phòng, chống tham nhũng

      Luật sửa đổi năm 2025 mở rộng phạm vi các chủ thể có trách nhiệm tham gia xây dựng báo cáo công tác phòng, chống tham nhũng.

      Theo đó, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Kiểm toán nhà nước và các cơ quan, tổ chức có liên quan có trách nhiệm phối hợp với Chính phủ trong việc xây dựng báo cáo công tác phòng, chống tham nhũng trên phạm vi cả nước. Ở địa phương, Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh và các cơ quan liên quan có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong việc xây dựng báo cáo về công tác phòng, chống tham nhũng tại địa phương.

      Luật đồng thời quy định rõ các nội dung cơ bản của báo cáo, bao gồm kết quả thực hiện các biện pháp phòng ngừa, phát hiện và xử lý tham nhũng; kết quả thu hồi tài sản tham nhũng; đánh giá tình hình tham nhũng; phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp và các kiến nghị, đề xuất.

      5. Tăng cường ứng dụng khoa học, công nghệ và chuyển đổi số

      Một điểm mới khác của Luật là việc bổ sung quy định về ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong hoạt động quản lý. Điều 28 được sửa đổi theo hướng quy định: 

      Các cơ quan, tổ chức, đơn vị có trách nhiệm tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị kỹ thuật; nâng cao năng lực quản trị; đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong tổ chức và hoạt động.

      Các bộ, ngành, địa phương có trách nhiệm xây dựng, vận hành hệ thống thông tin và cơ sở dữ liệu thuộc phạm vi quản lý; bảo đảm kết nối, tích hợp, chia sẻ dữ liệu với các cơ sở dữ liệu quốc gia; đồng thời khai thác, sử dụng hiệu quả tài nguyên số và dữ liệu số theo quy định của pháp luật.

      6. Làm rõ thẩm quyền của cơ quan kiểm soát tài sản, thu nhập

      Luật sửa đổi năm 2025 tiếp tục hoàn thiện quy định về cơ quan kiểm soát tài sản, thu nhập.

      Nếu trước đây thẩm quyền kiểm soát tài sản, thu nhập của các cơ quan trong hệ thống chính trị chủ yếu được quy định thông qua các văn bản của Đảng và cơ chế phối hợp giữa các cơ quan có liên quan thì Luật mới đã quy định cụ thể hơn.

      Theo đó, Ủy ban kiểm tra cấp ủy cấp trên trực tiếp cơ sở trở lên thực hiện việc kiểm soát tài sản, thu nhập đối với người có nghĩa vụ kê khai thuộc diện cấp ủy cùng cấp quản lý và đảng viên chuyên trách công tác đảng hoặc giữ vị trí việc làm tại các cơ quan tham mưu, giúp việc của cấp ủy theo quy định của Đảng.

      7. Sửa đổi quy định về tài sản, thu nhập phải kê khai

      Nội dung được quan tâm nhiều nhất trong Luật sửa đổi năm 2025 là việc điều chỉnh phạm vi tài sản, thu nhập phải kê khai.

      Theo quy định mới, tài sản, thu nhập phải kê khai bao gồm quyền sử dụng đất; nhà ở; công trình xây dựng; tài sản khác gắn liền với đất; kim khí quý, đá quý, tiền, giấy tờ có giá và các tài sản khác có giá trị từ 150 triệu đồng trở lên; tài sản, tài khoản ở nước ngoài; tổng thu nhập giữa hai lần kê khai.

      Để hướng dẫn thi hành quy định này, Nghị định số 164/2026/NĐ-CP ngày 15/5/2026 của Chính phủ đã quy định cụ thể phương thức, thời điểm và nội dung kê khai tài sản, thu nhập; đồng thời xác định rõ các đối tượng thuộc diện kê khai hằng năm. Nghị định cũng quy định chi tiết các loại tài sản phải kê khai của người có nghĩa vụ kê khai, vợ hoặc chồng và con chưa thành niên, bao gồm: Quyền sử dụng đất; Nhà ở, công trình xây dựng; Tài sản khác gắn liền với đất; Vàng, kim cương, bạch kim và các kim khí quý, đá quý khác mà mỗi loại có tổng giá trị từ 150 triệu đồng trở lên; Tiền (tiền Việt Nam, ngoại tệ) gồm tiền mặt, tiền cho vay, tiền trả trước, tiền gửi cá nhân, tổ chức trong nước, tổ chức nước ngoài tại Việt Nam mà tổng giá trị quy đổi từ 150 triệu đồng trở lên; Cổ phiếu, trái phiếu, vốn góp, các loại giấy tờ có giá khác mà tổng giá trị từ 150 triệu đồng trở lên; Tài sản số, tài sản khác mà mỗi loại tài sản có giá trị từ 150 triệu đồng trở lên; Các khoản nợ có giá trị từ 150 triệu đồng trở lên; Tài sản ở nước ngoài; Tài khoản ở nước ngoài; Tổng thu nhập giữa hai lần kê khai.

      Đáng chú ý, Luật sửa đổi năm 2025 đã nâng ngưỡng kê khai bổ sung từ 300 triệu đồng theo Luật năm 2018 lên 01 tỷ đồng. Theo đó, việc kê khai bổ sung được thực hiện khi tài sản, thu nhập có biến động từ 01 tỷ đồng trở lên trong năm và phải hoàn thành trước ngày 31 tháng 12 của năm phát sinh biến động.

      Tương ứng với sự thay đổi này, Điều 40 của Luật cũng được sửa đổi theo hướng tăng cường cơ chế theo dõi biến động tài sản, thu nhập thông qua việc phân tích thông tin từ bản kê khai và các nguồn dữ liệu khác. Trường hợp phát hiện biến động từ 01 tỷ đồng trở lên mà không được kê khai theo quy định, cơ quan kiểm soát tài sản, thu nhập có quyền yêu cầu người kê khai giải trình và bổ sung thông tin liên quan.

      8. Sửa đổi quy định về xử lý vi phạm trong kê khai tài sản, thu nhập

      Luật sửa đổi năm 2025 tiếp tục hoàn thiện cơ chế xử lý đối với hành vi kê khai không trung thực hoặc giải trình không trung thực về nguồn gốc tài sản, thu nhập tăng thêm.

      Theo đó, người có nghĩa vụ kê khai vi phạm sẽ bị xem xét xử lý theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức, viên chức và các quy định pháp luật có liên quan; trường hợp là đảng viên còn bị xử lý theo quy định của Đảng.

      Trên cơ sở đó, Nghị định số 164/2026/NĐ-CP đã quy định cụ thể các hình thức kỷ luật tương ứng với tính chất, mức độ và hậu quả của hành vi vi phạm. Người kê khai có thể bị áp dụng hình thức khiển trách đối với trường hợp không nộp bản kê khai khi đã được cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền đôn đốc bằng văn bản lần 2; không trung thực đối với tài sản, thu nhập phải kê khai có tổng giá trị đến 10 tỷ đồng; giải trình nguồn gốc của tài sản, thu nhập tăng thêm không trung thực đối với tài sản, thu nhập có tổng giá trị từ 150 triệu đồng đến 10 tỷ đồng. Hình thức cảnh cáo được áp dụng đối với các trường hợp không nộp bản kê khai đúng hạn khi đã bị xử lý kỷ luật bằng hình thức khiển trách; kê khai không trung thực đối với tài sản, thu nhập phải kê khai có tổng giá trị từ trên 10 tỷ đồng đến 20 tỷ đồng; giải trình nguồn gốc của tài sản, thu nhập tăng thêm không trung thực đối với tài sản, thu nhập có tổng giá trị từ trên 10 tỷ đồng đến 20 tỷ đồng. Đối với người kê khai có chức vụ, hình thức kỷ luật cách chức áp dụng trong các trường hợp: kê khai không trung thực đối với tài sản, thu nhập phải kê khai có tổng giá trị trên 20 tỷ đồng; giải trình nguồn gốc của tài sản, thu nhập tăng thêm không trung thực đối với tài sản, thu nhập có tổng giá trị trên 20 tỷ đồng.

      Nhìn chung, Luật số 132/2025/QH15 đã sửa đổi, bổ sung nhiều nội dung quan trọng của Luật Phòng, chống tham nhũng theo hướng cụ thể hóa các quy định còn mang tính khái quát, tăng cường tính minh bạch, trách nhiệm giải trình, hoàn thiện cơ chế kiểm soát tài sản, thu nhập và đẩy mạnh ứng dụng công nghệ trong quản lý nhà nước. Những sửa đổi này không chỉ góp phần khắc phục các khó khăn, vướng mắc phát sinh trong quá trình thi hành Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 mà còn tạo cơ sở pháp lý thuận lợi hơn cho việc nâng cao hiệu quả phòng ngừa, phát hiện và xử lý hành vi tham nhũng, đáp ứng yêu cầu xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền và tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản trị quốc gia trong giai đoạn hiện nay./.


Đức Minh

File đính kèm
   

Nhập nội dung ý kiến của bạn.
Nhập tên của bạn.
Nhập email của bạn.


TIN KHÁC CÙNG CHUYÊN MỤC



Email không được để trống và đúng định dạng.