THÔNG TIN PHỔ BIẾN GIÁO DỤC PHÁP LUẬT

SỞ TƯ PHÁP
   

Phân biệt giữa công chứng và chứng thực

Ngày tạo:  15/04/2024 09:04:45
Công chứng và chứng thực là hai hoạt động khác biệt, tuy nhiên hiện nay nhiều người vẫn chưa hiểu đúng bản chất và nhầm lẫn khái niệm “công chứng” và “chứng thực”. Sau đây là cách phân biệt khái niệm và đặc điểm pháp lý của hoạt động công chứng và chứng thực.

           Theo quy định của Luật công chứng: Công chứng là việc công chứng viên của một tổ chức hành nghề công chứng, chứng nhận tính xác thực, hợp pháp của hợp đồng, giao dịch dân sự khác bằng văn bản (sau đây gọi là hợp đồng, giao dịch), tính chính xác, hợp pháp, không trái đạo đức xã hội của bản dịch giấy tờ, văn bản từ tiếng Việt sang tiếng nước ngoài hoặc từ tiếng nước ngoài sang tiếng Việt (sau đây gọi là bản dịch) mà theo quy định của pháp luật phải công chứng hoặc cá nhân, tổ chức tự nguyện yêu cầu công chứng.

      

Văn phòng Công chứng Cao Đình Bình

         Chứng thực được hiểu là hoạt động của cơ quan nhà nước có thẩm quyền chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký, chứng thực hợp đồng, giao dịch theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định. Hoạt động chứng thực được điều chỉnh bởi Nghị định số 23/2015/NĐ-CP ngày 16/02/2015 của Chính phủ về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký và chứng thực hợp đồng, giao dịch (gồm: Chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký và chứng thực hợp đồng, giao dịch). 

 Căn cứ các quy định của pháp luật có thể thấy công chứng và chứng thực có những khác biệt sau:

          - Về bản chất: 

        + Công chứng là chứng nhận tính xác thực, hợp pháp của hợp đồng, giao dịch. Việc công chứng phải bảo đảm nội dung của hợp đồng,  giao dịch và chú trọng về cả hình thức và nội dung, công chứng viên chịu trách nhiệm về tính hợp pháp của hợp đồng, giao dịch đó.

       + Chứng thực là chứng thực về thời gian, địa điểm giao kết hợp đồng, giao dịch; năng lực hành vi dân sự, ý chí tự nguyện, chữ ký hoặc dấu điểm chỉ của các bên tham gia hợp đồng, giao dịch, việc chứng nhận sự việc, chủ yếu chú trọng về mặt hình thức, không đề cập đến nội dung. 

          - Thẩm quyền thực hiện: 

       + Hoạt cộng công chứng do các tổ chức hành nghề công chứng: Phòng công chứng, Văn phòng công chứng, Cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan đại diện lãnh sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài thực hiện.

       + Hoạt động chứng thực do  Phòng Tư pháp cấp huyện;  Ủy ban nhân dân cấp xã; Cơ quan đại diện ngoại giao, Cơ quan đại diện lãnh sự và Cơ quan khác được ủy quyền thực hiện chức năng lãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài và Công chứng viên thực hiện

        - Về phạm vi công chứng, chứng thực hợp đồng giao dịch liên quan đến bất động sản: 

       + Công chứng thực hiện trên phạm vi địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi có bất động sản.

       + Chứng thực được thực hiện trên địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có bất động sản.

       - Về giá trị pháp lý: 

      * Đối với hoạt động công chứng: 

      + Văn bản công chứng có hiệu lực kể từ ngày được công chứng viên ký và đóng dấu của tổ chức hành nghề công chứng.

       + Hợp đồng, giao dịch được công chứng có hiệu lực thi hành đối với các bên liên quan; trong trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ của mình thì bên kia có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật, trừ trường hợp các bên tham gia hợp đồng, giao dịch có thỏa thuận khác.

       + Hợp đồng, giao dịch được công chứng có giá trị chứng cứ; những tình tiết, sự kiện trong hợp đồng, giao dịch được công chứng không phải chứng minh, trừ trường hợp bị Tòa án tuyên bố là vô hiệu.

        + Bản dịch được công chứng có giá trị sử dụng như giấy tờ, văn bản được dịch.

      

Bộ phận một cửa, UBND Phường Ngọc Trạo, Thành phố Thanh Hóa

       * Đối với hoạt động chứng thực:

      + Bản sao được cấp từ sổ gốc có giá trị sử dụng thay cho bản chính trong các giao dịch, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

      + Bản sao được chứng thực từ bản chính có giá trị sử dụng thay cho bản chính đã dùng để đối chiếu chứng thực trong các giao dịch, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

      + Chữ ký được chứng thực có giá trị chứng minh người yêu cầu chứng thực đã ký chữ ký đó, là căn cứ để xác định trách nhiệm của người ký về nội dung của giấy tờ, văn bản.

     + Hợp đồng, giao dịch được chứng thực có giá trị chứng cứ chứng minh về thời gian, địa điểm các bên đã ký kết hợp đồng, giao dịch; năng lực hành vi dân sự, ý chí tự nguyện, chữ ký hoặc dấu điểm chỉ của các bên tham gia hợp đồng, giao dịch.

      - Về trách nhiệm bồi thường: 

     + Các tổ chức hành nghề công chứng phải bồi thường cho người yêu cầu công chứng; Công chứng viên phải hoàn trả lại một khoản tiền cho tổ chức hành nghề công chứng đã chi trả tiền bồi thường. Trường hợp không hoàn trả thì tổ chức hành nghề công chứng có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết. 

     + Người thực hiện chứng thực gây thiệt hại thì sẽ bị xử lý kỷ luật, bồi thường theo quy định của pháp luật.

 Mặc dù có những điểm khác biệt giữa công chứng và chứng thực như đã nêu trên, nhưng hoạt động công chứng và chứng thực có mối quan hệ chung nhất đó là được nhà nước trao quyền thực hiện công vụ và dịch vụ công và thực hiện đảm bảo tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, khách quan, trung thực (không vì lợi ích cá nhân, mối quan hệ làm ảnh hưởng đến bên thứ ba), chịu trách nhiệm trước pháp luật và người yêu cầu công chứng, chứng thực, tuân theo quy tắc đạo đức hành nghề công chứng. Nhiệm vụ của các tổ chức công chứng và các cơ quan thực hiện chứng thực là thực hiện các yêu cầu của cá nhân, tổ chức về công chứng, chứng thực các văn bản, giấy tờ, tài liệu và hợp đồng, giao dịch, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký theo quy định của Luật Công chứng 2014 và Nghị định 23/2015/NĐ-CP của Chính phủ. Hiện tại pháp luật không quy định hợp đồng, giao dịch được chứng thực hoặc được công chứng cái nào có giá trị pháp lý cao hơn. Do đó người dân có thể lựa chọn giữa công chứng hoặc chứng thực. Tuy nhien, thực tế cho thấy các hợp đồng, giao dịch được công chứng sẽ được đảm tính hợp pháp và giảm thiểu được nhiều rủi ro hơn.

       Hiểu và phân biệt được sự khác nhau giữa công chứng và chứng thực giúp những người có thẩm quyền công chứng, chứng thực thực hiện đúng thẩm quyền, trách nhiệm của mình; giúp cơ quan quản lý nhà nước thực hiện tốt chức năng quản lý nhà nước, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về công chứng, chứng thực. Ngoài ra, phân biệt được sự khác nhau giữa công chứng và chứng thực còn giúp cá nhân, tổ chức có yêu cầu công chứng, chứng thực xác định, lựa chọn hình thức thích hợp, đảm bảo quyền, lợi ích của mình khi tham gia ký kết hợp đồng, giao dịch.

 


Phương Linh
Nguồn tin: Phổ biến, giáo dục pháp luật

File đính kèm
   

Nhập nội dung ý kiến của bạn.
Nhập tên của bạn.
Nhập email của bạn.