THÔNG TIN PHỔ BIẾN GIÁO DỤC PHÁP LUẬT

UBND HUYỆN YÊN ĐỊNH
   

Nghị định số 269/2026/NĐ-CP – Hoàn thiện cơ chế, chính sách bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của các dân tộc thiểu số gắn với phát triển bền vững

Ngày tạo:  09/07/2026 14:57:16
Trong những năm qua, công tác bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của các dân tộc thiểu số luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, xác định là một trong những nhiệm vụ quan trọng nhằm giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc và góp phần phát triển bền vững vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Tuy nhiên, dưới tác động của quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa, hội nhập quốc tế và chuyển đổi số, nhiều giá trị văn hóa truyền thống đang đứng trước nguy cơ mai một; không gian văn hóa truyền thống bị thu hẹp; đội ngũ nghệ nhân, người thực hành di sản ngày càng cao tuổi trong khi lực lượng kế cận còn hạn chế. Thực tiễn đó đòi hỏi phải có cơ chế, chính sách thống nhất, đồng bộ để bảo tồn, phục hồi và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống gắn với phát triển kinh tế - xã hội. Ngày 01/7/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 269/2026/NĐ-CP quy định cơ chế, chính sách bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của các dân tộc thiểu số (sau đây viết tắt là Nghị định số 269/2026/NĐ-CP). Nghị định được ban hành nhằm hoàn thiện cơ chế, chính sách bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của các dân tộc thiểu số, tạo cơ sở pháp lý thống nhất để huy động nguồn lực, phát huy vai trò chủ thể của cộng đồng và gắn bảo tồn văn hóa với phát triển bền vững. Nghị định có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026.

          Sau đây, xin giới thiệu một số nội dung cơ bản của Nghị định số 269/2026/NĐ-CP:

          1. Phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng và nguyên tắc thực hiện

          - Phạm vi điều chỉnh: Theo Điều 1 quy định cơ chế, chính sách bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của các dân tộc thiểu số; nguồn lực thực hiện; trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân và các nội dung liên quan.

          - Đối tượng áp dụng:Điều 2 quy định đối tượng áp dụng của Nghị định gồm cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia thực hiện chính sách; cộng đồng dân tộc thiểu số; chủ thể văn hóa; tổ, nhóm cộng đồng và các tổ chức, cá nhân có liên quan.

Điều 3 giải thích các từ ngữ như: văn hóa truyền thống tốt đẹp của các dân tộc thiểu số; văn hóa truyền thống có nguy cơ mai một; không gian văn hóa; làng, bản, buôn truyền thống; chủ thể văn hóa nòng cốt; chủ thể văn hóa kế cận; chủ thể văn hóa tiềm năng.

          -  Nguyên tắc thực hiện: Để bảo đảm việc thực hiện chính sách thống nhất, hiệu quả và phù hợp với thực tiễn, Điều 4 quy định cụ thể 05 nguyên tắc thực hiện cơ chế, chính sách. Theo đó, việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống phải bảo đảm tôn trọng bản sắc văn hóa, phong tục, tập quán tốt đẹp của từng dân tộc; phát huy vai trò chủ thể của cộng đồng và người dân; bảo đảm công khai, minh bạch, đúng đối tượng, đúng mục đích, tránh chồng chéo với các chương trình, dự án và chính sách khác. 

          Đồng thời, việc triển khai chính sách phải gắn với mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng đời sống văn hóa, phát triển du lịch bền vững, góp phần giữ gìn khối đại đoàn kết toàn dân tộc và bảo đảm quốc phòng, an ninh ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.

          2. Các nhóm cơ chế, chính sách bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của các dân tộc thiểu số

          Chương II Nghị định số 269/2026/NĐ-CP quy định các cơ chế, chính sách bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của các dân tộc thiểu số, được tổ chức thành 03 nhóm chính sách gồm: (i) chính sách bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống tốt đẹp của các dân tộc thiểu số và văn hóa truyền thống có nguy cơ mai một; (ii) chính sách bảo tồn và phát huy không gian văn hóa, làng, bản, buôn truyền thống gắn với phát triển du lịch; (iii) chính sách phát huy vai trò chủ thể văn hóa, tạo sinh kế bền vững. Qua đó, Nghị định thiết lập hệ thống cơ chế, chính sách theo hướng toàn diện, thống nhất, lấy cộng đồng làm chủ thể, gắn bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của các dân tộc thiểu số với phát triển bền vững.

          Nhóm chính sách thứ nhất: chính sách bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống tốt đẹp của các dân tộc thiểu số và văn hóa truyền thống có nguy cơ mai một 

          Điều 5, Điều 7 và Điều 8 của Nghị định hình thành một chuỗi cơ chế, chính sách từ việc xác định các giá trị văn hóa truyền thống có nguy cơ mai một, xây dựng đội ngũ chủ thể văn hóa đến phát hiện, bồi dưỡng lực lượng kế cận nhằm bảo đảm việc trao truyền và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống trong cộng đồng.

          Theo Điều 5, việc xác định văn hóa truyền thống có nguy cơ mai một được thực hiện trên cơ sở điều tra, rà soát, đánh giá thực trạng và ý kiến của cộng đồng, chủ thể văn hóa, chuyên gia và cơ quan quản lý nhà nước về văn hóa; trên cơ sở các tiêu chí quy định tại Điều này để lập danh mục văn hóa truyền thống có nguy cơ mai một và ưu tiên phục hồi, bảo tồn.

          Điều 7 quy định tiêu chí xác định chủ thể văn hóa nòng cốt và chủ thể văn hóa kế cận. Theo khoản 2 Điều 7, chủ thể văn hóa nòng cốt phải đáp ứng các tiêu chí về thời gian tham gia thực hành và trao truyền văn hóa truyền thống; số lượng hoạt động đã tham gia trong 03 năm gần nhất; việc trực tiếp trao truyền cho chủ thể văn hóa kế cận; đồng thời có ý thức, cam kết tiếp tục tham gia các hoạt động phục hồi, bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống trong cộng đồng. Khoản 3 Điều 7 quy định chủ thể văn hóa kế cận phải được nghệ nhân hoặc chủ thể văn hóa nòng cốt giới thiệu, có khả năng tiếp thu, thực hành độc lập nội dung được trao truyền và có cam kết tiếp tục tham gia các hoạt động thực hành, trao truyền văn hóa truyền thống.

          Bên cạnh đó, Điều 8 quy định việc phát hiện, bồi dưỡng chủ thể văn hóa tiềm năng thông qua các hoạt động truyền dạy, thực hành, sinh hoạt văn hóa cộng đồng và các hình thức phù hợp khác nhằm xây dựng lực lượng kế cận, bảo đảm tính liên tục trong gìn giữ và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của các dân tộc thiểu số.

          Các quy định tại Điều 5, Điều 7 và Điều 8 tạo cơ sở pháp lý để xác định đối tượng cần ưu tiên bảo tồn, xây dựng đội ngũ chủ thể văn hóa và phát hiện, bồi dưỡng lực lượng kế cận nhằm bảo đảm việc thực hành, trao truyền và phát huy giá trị văn hóa truyền thống trong cộng đồng.

          Nhóm chính sách thứ hai: Chính sách bảo tồn và phát huy không gian văn hóa, làng, bản, buôn truyền thống gắn với phát triển du lịch 

          Điều 6 và Điều 9 quy định cơ chế bảo tồn tổng thể không gian văn hóa truyền thống gắn với phát triển du lịch cộng đồng và phát triển kinh tế bền vững.

          Theo Điều 6, không gian văn hóa, làng, bản, buôn truyền thống được xác định cần phục hồi, bảo tồn khi đáp ứng các tiêu chí sau:

          a) Hình thức biểu hiện của không gian văn hóa, làng, bản, buôn truyền thống (nhà ở truyền thống, công trình kiến trúc truyền thống, trang phục, ẩm thực...) bị biến đổi, ảnh hưởng đến việc duy trì hoạt động thực hành và trao truyền văn hóa truyền thống;

          b) Có dưới 70% nghề thủ công truyền thống được duy trì hoạt động trong cộng đồng;

          c) Tri thức dân gian được thực hành hoặc trao truyền nhưng không thường xuyên, liên tục trong cộng đồng;

          d) Lễ hội truyền thống không được tổ chức thường xuyên, liên tục trong thời gian dưới 03 năm;

          đ) Từ trên 30% đến dưới 50% hộ gia đình sinh sống trong cộng đồng đang duy trì thực hành theo phong tục, tập quán truyền thống.

          Các tiêu chí quy định tại Điều 6 là căn cứ để địa phương rà soát, thống kê, đánh giá thực trạng; xác định danh mục không gian văn hóa, làng, bản, buôn truyền thống cần ưu tiên phục hồi, bảo tồn theo quy định của Nghị định.

          Theo Điều 9, Nhà nước hỗ trợ xây dựng không gian văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số gắn với phát triển du lịch thông qua việc hỗ trợ cộng đồng, chủ thể văn hóa và tổ, nhóm cộng đồng khai thác giá trị văn hóa truyền thống; xây dựng, cải tạo kết cấu hạ tầng thiết yếu; hình thành sản phẩm du lịch văn hóa; phát triển chuỗi dịch vụ; quảng bá, xúc tiến du lịch.

          Nhóm chính sách thứ ba:  Chính sách phát huy vai trò chủ thể văn hóa, tạo sinh kế bền vững 

          Điều 10, Điều 11 và Điều 12 quy định các cơ chế bảo đảm nguồn lực thực hiện, hỗ trợ tổ, nhóm cộng đồng và hỗ trợ trực tiếp đối với chủ thể văn hóa nhằm tạo điều kiện để cộng đồng tham gia bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống.

          Theo Điều 10, nguồn lực thực hiện Nghị định được bảo đảm từ ngân sách nhà nước theo phân cấp ngân sách hiện hành và các nguồn huy động hợp pháp khác theo quy định của pháp luật; đồng thời khuyến khích lồng ghép với các chương trình, đề án, dự án có liên quan để nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực.

          Điều 11 quy định cơ chế hỗ trợ đối với tổ, nhóm cộng đồng tham gia bảo tồn, truyền dạy, phục dựng, quảng bá văn hóa truyền thống, phát triển sản phẩm văn hóa và du lịch cộng đồng; đồng thời xác định rõ các đối tượng tổ, nhóm cộng đồng được hỗ trợ theo quy định của Nghị định.

          Một trong những điểm mới của Nghị định số 269/2026/NĐ-CP là quy định cơ chế hỗ trợ trực tiếp đối với chủ thể văn hóa nhằm khuyến khích việc thực hành, trao truyền và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống trong cộng đồng.  Khoản 1 Điều 12 quy định chủ thể văn hóa nòng cốt, chủ thể văn hóa kế cận trực tiếp tham gia hoạt động thực hành, trao truyền văn hóa truyền thống trong các chương trình, đề án, dự án do cơ quan nhà nước hoặc đơn vị sự nghiệp công lập chủ trì tổ chức được hỗ trợ kinh phí như sau:

          + Chủ thể văn hóa nòng cốt: 400.000 đồng/người/buổi;

          + Chủ thể văn hóa kế cận: 300.000 đồng/người/buổi;

         Số buổi hỗ trợ tối đa không quá 20 buổi/chương trình, kinh phí được chi trả trong phạm vi dự toán được cấp có thẩm quyền giao.

          Khoản 2 Điều 12 quy định Hội đồng nhân dân cấp tỉnh căn cứ điều kiện kinh tế - xã hội và khả năng cân đối ngân sách của địa phương quyết định mức hỗ trợ hằng tháng đối với chủ thể văn hóa nòng cốt theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước.

          Các quy định tại Điều 10, Điều 11 và Điều 12 tạo cơ sở pháp lý về nguồn lực và cơ chế hỗ trợ để cộng đồng, tổ, nhóm cộng đồng và chủ thể văn hóa tham gia bảo tồn, trao truyền và phát huy giá trị văn hóa truyền thống gắn với phát triển sinh kế bền vững.

          3. Trách nhiệm tổ chức thực hiện

          Điều 13 Nghị định quy định trách nhiệm tổ chức thực hiện của các bộ, ngành, Ủy ban nhân dân các cấp và các cơ quan, tổ chức có liên quan nhằm bảo đảm việc tổ chức thực hiện các cơ chế, chính sách thống nhất, đồng bộ và hiệu quả trên phạm vi cả nước. Trong đó, Ủy ban nhân dân các cấp có trách nhiệm tổ chức triển khai thực hiện Nghị định trên địa bàn; bảo đảm và huy động các nguồn lực thực hiện; phê duyệt hoặc trình cấp có thẩm quyền phê duyệt chương trình, đề án, dự án, kế hoạch phục hồi, bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống; chỉ đạo rà soát, thống kê thực trạng văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số; phê duyệt danh mục văn hóa truyền thống có nguy cơ mai một và không gian văn hóa truyền thống cần ưu tiên phục hồi, bảo tồn; đồng thời tổ chức thanh tra, kiểm tra, giám sát, đánh giá việc thực hiện và thực hiện chế độ báo cáo theo quy định.

          Nghị định số 269/2026/NĐ-CP đã chuyển mạnh từ tư duy "bảo tồn đơn thuần" sang "bảo tồn gắn với phát triển", tạo điều kiện để các giá trị văn hóa truyền thống trở thành nguồn lực phục vụ phát triển du lịch cộng đồng, nghề truyền thống và sinh kế bền vững. Đồng thời, Nghị định hoàn thiện cơ sở pháp lý về bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của các dân tộc thiểu số thông qua việc quy định thống nhất các cơ chế, chính sách về xác định đối tượng ưu tiên bảo tồn, xây dựng đội ngũ chủ thể văn hóa, hỗ trợ cộng đồng và bảo đảm nguồn lực thực hiện; xác lập rõ quan điểm lấy cộng đồng làm chủ thể của hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống. Theo đó, Nhà nước giữ vai trò định hướng, hỗ trợ nguồn lực và tạo điều kiện để cộng đồng chủ động gìn giữ, trao truyền và phát huy bản sắc văn hóa của mình.

         Có thể khẳng định, đây là bước hoàn thiện quan trọng về thể chế trong lĩnh vực bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của các dân tộc thiểu số. Với cách tiếp cận lấy cộng đồng làm chủ thể, gắn bảo tồn với phát triển bền vững, Nghị định tạo cơ sở pháp lý để các địa phương triển khai đồng bộ các cơ chế, chính sách, góp phần gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc, phát huy nguồn lực văn hóa phục vụ phát triển kinh tế - xã hội và nâng cao đời sống đồng bào dân tộc thiểu số trong giai đoạn mới./.

 


Đức Minh
Nguồn tin: PBGDPL

File đính kèm