Quyền tiếp cận thông tin là một trong những quyền con người, quyền công dân cơ bản, được ghi nhận tại Điều 25 Hiến pháp năm 2013. Quyền này không chỉ bảo đảm quyền được biết của công dân mà còn là cơ sở quan trọng để công dân thực hiện quyền tham gia quản lý nhà nước, giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức.
Sau gần 10 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã góp phần thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy vẫn còn một số hạn chế như: phạm vi chủ thể có trách nhiệm cung cấp thông tin còn hẹp; cơ chế công khai thông tin chưa theo kịp yêu cầu chuyển đổi số; việc bảo vệ dữ liệu cá nhân chưa đầy đủ; thủ tục yêu cầu cung cấp thông tin trong một số trường hợp còn phức tạp; việc công khai thông tin ở một số cơ quan, đơn vị còn hình thức, chưa kịp thời.
Trong bối cảnh đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia, xây dựng Chính phủ số, xã hội số và nâng cao yêu cầu công khai, minh bạch trong hoạt động công quyền, Luật Tiếp cận thông tin năm 2026 được ban hành nhằm hoàn thiện cơ chế pháp lý bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân.
Dưới đây là một số nội dung mới cơ bản của Luật Tiếp cận thông tin năm 2026:
Thứ nhất, mở rộng phạm vi chủ thể có trách nhiệm cung cấp thông tin
Một trong những điểm đổi mới đáng chú ý của Luật Tiếp cận thông tin năm 2026 là việc mở rộng và xác định rõ hơn phạm vi chủ thể có trách nhiệm bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân. Nếu như Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 chủ yếu tập trung vào trách nhiệm của cơ quan nhà nước, thì Luật năm 2026 tiếp cận theo hướng mở rộng phạm vi điều chỉnh, phù hợp với yêu cầu đổi mới quản trị công và tăng cường trách nhiệm giải trình trong cung ứng dịch vụ công.
Điều 1 Luật Tiếp cận thông tin năm 2026 xác định phạm vi điều chỉnh không chỉ bao gồm cơ quan nhà nước mà còn bao gồm đơn vị sự nghiệp công lập cung ứng dịch vụ sự nghiệp công cơ bản, thiết yếu trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân. Đồng thời, khoản 1 Điều 10 quy định cơ quan, đơn vị có trách nhiệm cung cấp thông tin do mình tạo ra hoặc nắm giữ theo quy định của pháp luật.
Việc bổ sung trách nhiệm của đơn vị sự nghiệp công lập có ý nghĩa quan trọng trong bối cảnh các chủ thể này ngày càng tham gia sâu vào quá trình cung ứng dịch vụ công trong các lĩnh vực y tế, giáo dục, khoa học, văn hóa và an sinh xã hội. Trên thực tế, nhiều thông tin liên quan trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của người dân không chỉ hình thành trong hoạt động quản lý nhà nước mà còn trong quá trình cung ứng dịch vụ công.
Quy định mới này góp phần khắc phục một số bất cập trong bảo đảm quyền tiếp cận thông tin, đồng thời mở rộng phạm vi minh bạch đối với việc sử dụng ngân sách, tài sản và nguồn lực công. Quy định này cho thấy có sự chuyển dịch từ tiếp cận dựa trên địa vị pháp lý của chủ thể sang tiếp cận dựa trên chức năng công và trách nhiệm phục vụ xã hội, phù hợp với yêu cầu xây dựng nền hành chính hiện đại, lấy người dân làm trung tâm phục vụ.
Thứ hai, tăng cường bảo đảm quyền tiếp cận thông tin đối với các nhóm yếu thế trong xã hội
Luật Tiếp cận thông tin năm 2026 bổ sung các quy định nhằm hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi cho các nhóm yếu thế trong thực hiện quyền tiếp cận thông tin.
Khoản 1 Điều 3 quy định: “…Người khuyết tật, người dân tộc thiểu số, người sinh sống ở khu vực biên giới, hải đảo, miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn và đặc biệt khó khăn được Nhà nước hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi khi thực hiện quyền tiếp cận thông tin”. Khoản 1 Điều 11 tiếp tục quy định trách nhiệm của cơ quan, đơn vị trong việc áp dụng biện pháp bảo đảm để các nhóm đối tượng này tiếp cận thông tin thuận lợi, hiệu quả.
Điều này phản ánh sự chuyển biến từ bảo đảm bình đẳng hình thức sang bảo đảm bình đẳng thực chất trong thực hiện quyền tiếp cận thông tin. Trên thực tế, điều kiện tiếp cận thông tin giữa các nhóm dân cư không đồng đều: người khuyết tật gặp khó khăn về phương thức tiếp cận; người dân tộc thiểu số có rào cản ngôn ngữ; người dân vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo còn hạn chế về hạ tầng số và dịch vụ công trực tuyến. Do vậy, quy định mới này tạo cơ sở pháp lý để triển khai các biện pháp hỗ trợ phù hợp, góp phần bảo đảm quyền tiếp cận thông tin được thực hiện thực chất, đồng thời hạn chế nguy cơ gia tăng khoảng cách số trong quá trình chuyển đổi số quốc gia.
Thứ ba, mở rộng phạm vi thông tin phải được công khai, tăng cường minh bạch trong quản trị công
So với Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, Luật Tiếp cận thông tin năm 2026 mở rộng đáng kể phạm vi thông tin phải được công khai, quy định cụ thể và toàn diện hơn các nhóm thông tin trong nhiều lĩnh vực quản lý nhà nước.
Luật Tiếp cận thông tin năm 2026 bổ sung yêu cầu công khai đối với các nhóm thông tin có tác động xã hội lớn như: kế hoạch sử dụng đất; giá đất; thu hồi đất; phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư liên quan đến dự án, công trình trên địa bàn; kết quả điều tra, đánh giá đất đai; chất lượng môi trường, ô nhiễm môi trường; kế hoạch ứng phó sự cố môi trường; thông tin về sự cố môi trường; thông tin về các nguồn thải vào môi trường nước mặt và các nguồn có nguy cơ gây ra sự cố môi trường trên địa bàn tỉnh; báo cáo đánh giá tác động môi trường; giấy phép môi trường; thông tin về chất lượng môi trường, nguồn thải, đánh giá tác động môi trường; kết quả đánh giá chất lượng cơ sở khám bệnh, chữa bệnh; giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh; các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh vi phạm pháp luật về y tế; bảo đảm chất lượng dịch vụ công trực tuyến theo quy định; kết quả đánh giá mức độ phổ cập và khả năng tiếp cận dịch vụ công trực tuyến và kết quả đánh giá mức độ chuyển đổi số…
Với việc mở rộng phạm vi thông tin phải được công khai, Luật năm 2026 đã góp phần cụ thể hóa yêu cầu minh bạch trong quản trị công, tăng cường minh bạch trong các lĩnh vực trực tiếp liên quan đến đời sống Nhân dân, tạo điều kiện thuận lợi cho giám sát xã hội và phòng ngừa tiêu cực trong thực tiễn.
Thứ tư, thúc đẩy chuyển đổi số trong hoạt động công khai và cung cấp thông tin
Luật Tiếp cận thông tin năm 2026 xác lập rõ định hướng chuyển đổi số trong hoạt động công khai và cung cấp thông tin.
Khoản 3 Điều 3 xác định đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số và tăng cường cung cấp thông tin trên môi trường số là nguyên tắc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin. Đây là bước chuyển quan trọng từ việc coi chuyển đổi số là giải pháp kỹ thuật sang xác định chuyển đổi số là một yêu cầu trong bảo đảm và thực hiện quyền tiếp cận thông tin.
Luật bổ sung các hình thức công khai thông tin tại Điều 18 như: cổng dữ liệu, các kênh thông tin, trang cộng đồng chính thức của cơ quan, đơn vị. Đồng thời, quy định bổ sung vào Điều 24 một số hình thức mới mà công dân được quyền yêu cầu, cung cấp thông tin như: “cổng thông tin điện tử, trang thông tin điện tử, cổng dữ liệu, cổng dịch vụ công quốc gia, ứng dụng di động hoặc các nền tảng số khác do cơ quan, đơn vị có thẩm quyền công bố…”. Người yêu cầu cung cấp thông tin tại trụ sở cơ quan, đơn vị được sử dụng điện thoại di động và các phương tiện kỹ thuật khác của cá nhân để sao, chụp, tải về văn bản, hồ sơ, tài liệu, trừ trường hợp pháp luật có liên quan quy định khác.
Những quy định mới này tạo điều kiện để người dân tiếp cận thông tin nhanh chóng, thuận tiện, không bị giới hạn bởi không gian và thời gian. Đây cũng là nền tảng pháp lý quan trọng hướng tới việc hình thành hệ thống dữ liệu công khai phục vụ Chính phủ số và xã hội số.
Thứ năm, hoàn thiện cơ chế xác định phạm vi thông tin được tiếp cận, bị hạn chế tiếp cận và tăng cường bảo vệ dữ liệu cá nhân
Luật Tiếp cận thông tin năm 2026 tiếp tục hoàn thiện cơ chế xác định phạm vi thông tin được tiếp cận, không được tiếp cận hoặc được tiếp cận có điều kiện, đồng thời tăng cường bảo vệ dữ liệu cá nhân và quyền riêng tư trong môi trường số.
Điều 14 Luật Tiếp cận thông tin năm 2026 khẳng định: công dân được tiếp cận thông tin của cơ quan, đơn vị, trừ thông tin không được tiếp cận theo Điều 15 và thông tin tiếp cận có điều kiện theo Điều 16. Quy định này vừa kế thừa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, vừa làm rõ hơn cơ sở pháp lý xác định phạm vi và giới hạn tiếp cận thông tin của công dân.
Điều 15 bổ sung một số nhóm thông tin không được tiếp cận như: thông tin thuộc bí mật công tác; thông tin về các cuộc họp nội bộ; tài liệu nội bộ phục vụ quá trình tham mưu, xây dựng chính sách. Quy định này nhằm bảo đảm tính ổn định, khách quan trong hoạt động nghiên cứu, tham mưu trước khi ban hành quyết định chính thức.
Điều 16 tiếp tục hoàn thiện cơ chế tiếp cận có điều kiện đối với thông tin liên quan đến đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình và các thông tin khác theo quy định của pháp luật. Luật đồng thời nhấn mạnh yêu cầu bảo vệ dữ liệu cá nhân, theo đó việc tiếp cận dữ liệu cá nhân phải tuân thủ quy định của pháp luật về bảo vệ dữ liệu cá nhân.
Theo đó, dữ liệu cá nhân thuộc nhóm thông tin không được tiếp cận hoặc chỉ được tiếp cận trong trường hợp pháp luật cho phép. Việc tiếp cận thông tin liên quan đến đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình phải có sự đồng ý của chủ thể thông tin, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Trong bối cảnh chuyển đổi số, dữ liệu cá nhân ngày càng trở thành nguồn thông tin quan trọng nhưng cũng tiềm ẩn nguy cơ bị xâm phạm. Các quy định nêu trên góp phần bảo đảm sự cân bằng giữa yêu cầu công khai, minh bạch thông tin với yêu cầu bảo vệ quyền riêng tư, đồng thời bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật về tiếp cận thông tin, an ninh mạng, bảo vệ dữ liệu cá nhân và chuyển đổi số.
Thứ sáu, đơn giản hóa thủ tục và tăng cường cơ chế bảo vệ quyền tiếp cận thông tin
Luật tiếp tục sửa đổi theo hướng đơn giản hóa thủ tục, tạo thuận lợi cho công dân.
Khoản 2 Điều 24 cho phép người yêu cầu cung cấp thông tin sử dụng điện thoại di động và phương tiện kỹ thuật cá nhân để sao, chụp, tải về tài liệu theo quy định. Quy định này tăng tính chủ động, giảm chi phí và thời gian thực hiện thủ tục.
Khoản 3 Điều 26 quy định thời hạn cung cấp thông tin chậm nhất 12 ngày; trường hợp cần gia hạn thì không quá 12 ngày và phải thông báo bằng văn bản. Quy định này tăng cường cơ chế kiểm soát thời hạn giải quyết, nâng cao trách nhiệm giải trình và hạn chế tình trạng kéo dài trong cung cấp thông tin.
Luật Tiếp cận thông tin năm 2026 là bước hoàn thiện quan trọng trong cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân, đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền, Chính phủ số và nền hành chính công khai, minh bạch. Luật mở rộng phạm vi chủ thể có trách nhiệm cung cấp thông tin, đa dạng hóa hình thức công khai, thúc đẩy chuyển đổi số, tăng cường bảo vệ dữ liệu cá nhân và hoàn thiện cơ chế bảo vệ quyền tiếp cận thông tin.
Để Luật phát huy hiệu quả trong thực tiễn, cần tiếp tục đẩy mạnh số hóa dữ liệu, tăng cường kết nối, chia sẻ thông tin giữa các cơ quan nhà nước, nâng cao trách nhiệm công khai, cung cấp thông tin, qua đó bảo đảm thực hiện hiệu quả quyền tiếp cận thông tin của công dân; nâng cao chất lượng quản trị quốc gia và hiệu quả phục vụ người dân trong giai đoạn chuyển đổi số./.